10 đề xuất xây dựng Luật CNQP của Viettel

Với thực tế 10 năm tham gia CNQP, Viettel đề xuất xây dựng Luật CNQP để hoàn thiện hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát triển CNQP cho giai đoạn mới.

Báo cáo trung tâm Hội nghị Tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh CNQP và 10 năm Viettel chính thức tham gia hoạt động CNQP đã chỉ rõ một số tồn tại, vướng mắc trong thực tế tại Viettel. Nguyên nhân chủ yếu đến từ 2 vấn đề: Thứ nhất, Pháp lệnh về CNQP còn mang tính nguyên tắc, chưa quy định cụ thể về vai trò và sự tham gia của doanh nghiệp đối với phát triển CNQP. Thứ hai, một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan còn thiếu hoặc chưa phù hợp trong hoạt động nghiên cứu, sản xuất của doanh nghiệp.

Những công nghệ 4.0 như bản đồ số, AR/VR sẵn sàng được tích hợp trên các sản phẩm quân sự do Viettel chế tạo. 

Để giải quyết triệt để vấn đề, Viettel đề xuất xây dựng Luật công nghiệp quốc phòng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Trong đó gồm 10 đề xuất ở 3 lĩnh vực : Nguồn vốn cho CNQP, Hoạt động đầu tư, mua sắm, xuất khẩu ; Những đề xuất nội dung khác.

Chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Thượng tướng Bế Xuân Trường, UV TƯ Đảng – UV QUTW – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, khẳng định đề xuất luật hóa các vấn đề liên quan đến CNQP của Viettel là phù hợp và cần thiết.

“Theo quy định của pháp luật hiện hành, mọi thứ phải được xây dựng thành luật. Những vấn đề các đồng chí báo cáo hôm nay, kể cả những nội dung đã làm được, tồn tại cần tháo gỡ và các đề xuất là cơ sở cho việc xây dựng Luật CNQP này. Nói cách khác, những kiến nghị của các đồng chí chính là Luật”, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Bế Xuân Trường nhấn mạnh.

Những sản phẩm quân sự công nghệ cao do Viettel sản xuất thành công khẳng định niềm tin về một tổ hợp CNQP hiện đại. 

Thứ trưởng Bế Xuân Trường đánh giá những nội dung tại báo cáo trung tâm và những tham luận tại Hội nghị đều rất xác đáng, và cần đưa vào nội dung chuẩn bị cho việc xây dựng Luật CNQP. Đặc biệt vấn đề giải quyết cơ chế nguồn vốn để huy động các nguồn vốn tham gia CNQP – đặc biệt là các nguồn vốn ngoài Quân đội. Bên cạnh đó là những cơ chế đặc thù dành cho các hoạt động nghiên cứu, chế tạo ở một số lĩnh vực tuyệt mật trong CNQP.

Tuy nhiên, việc xây dựng Luật CNQP sẽ đòi hỏi một khoảng thời gian. Nếu làm việc khẩn trương, năm 2021 bắt đầu xây dựng Luật, thì cần đến năm 2022 - 2023 mới có thể ban hành được. Để hoàn thành các nhiệm vụ được Đảng, Quân đội tin tưởng giao phó, Viettel cần phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo để tìm được hướng đi phù hợp tiến tới hình thành tổ hợp CNQP.

10 đề xuất của Viettel trong xây dựng Luật CNQP:

I. Liên quan đến nguồn vốn

1. Thể chế hóa và duy trì nguồn ngân sách từ lợi nhuận sau thuế của Viettel sau năm 2022 để Bộ Quốc phòng mua sắm các sản phẩm của Viettel.

2. Xây dựng quy định quản lý và sử dụng nguồn quỹ Đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

3. Sửa đổi, bổ sung Thông tư hướng dẫn trích lập, sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp theo hướng tập trung chính vào quy định phạm vi sử dụng và nguyên tắc quản lý để doanh nghiệp được chủ động hơn trong sử dụng Quỹ, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả.

II. Liên quan đến đầu tư, mua sắm, xuất khẩu

4. Có cơ chế đặc thù để Bộ Quốc phòng sử dụng nguồn ngân sách từ lợi nhuận sau thuế của Viettel để mua sắm các sản phẩm công nghiệp quốc phòng công nghệ cao do Viettel nghiên cứu, sản xuất.

5. Xây dựng cơ chế đặc thù cho mua sắm công nghệ, vật tư, dịch vụ trong hoạt động nghiên cứu, sản xuất.

6. Hình thành chương trình, chính sách quốc gia dài hạn trong mua sắm sản phẩm, dịch vụ quân sự quốc phòng trong nước sản xuất.

7. Quy định rõ điều kiện, cơ chế trong xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ quân sự quốc phòng để tạo sự chủ động hơn cho các thành phần kinh tế khi tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng.

III. Một số nội dung đề xuất khác

8. Xác định một số khái niệm và hình thức tổ chức trong phát triển công nghiệp quốc phòng như: Tổ hợp Công nghiệp quốc phòng, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng …

9. Chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung cấp các sản phẩm, dịch vụ quân sự quốc phòng nhằm huy động các nguồn lực của xã hội, tạo sự gắn kết giữa công nghiệp quốc phòng công và công nghiệp dân sinh.

10. Xác định một số lĩnh vực công nghệ sẽ dẫn dắt công nghiệp quốc phòng và công nghiệp quốc gia.

Nhận xét