Khát vọng công nghệ cao “Make in Vietnam - Made by Viettel”

Nói tới trình độ công nghệ của Việt Nam trước đây, có không ít người đã mỉa mai: “Không làm nổi cái ốc vít”. Thách thức từ “chiếc ốc vít” đã từng là nỗi đau của những người Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất.

Thế nhưng, bằng khát khao, ý chí, trí tuệ các kỹ sư tại Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel (VHT) đã vượt qua nỗi đau ấy, viết tên Việt Nam trên bản đồ nghiên cứu, sản xuất thiết bị công nghệ cao thế giới.

Khát vọng làm chủ lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất công nghệ cao

Để có Tổng công ty Công nghiệp - Công nghệ cao Viettel có quy mô lớn, trình độ công nghệ hiện đại như hiện nay, trước hết phải nói tới tầm nhìn của lãnh đạo Viettel. Ngay khi Viettel bắt đầu phát triển với quy mô lớn, lãnh đạo Viettel đã thể hiện khát vọng Viettel phải trở thành một tập đoàn công nghiệp, viễn thông toàn cầu hùng mạnh, không chỉ cung cấp dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, mà sẽ tham gia vào nghiên cứu, sản xuất thiết bị công nghệ cao – một lĩnh vực mà doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, và chưa thật sự quan tâm, đầu tư đúng mức. Đây không chỉ là bài toán của doanh nghiệp, thách thức của doanh nghiệp mà còn là bài toán, thách thức của quốc gia. Vì biểu đồ về giá trị trong sản xuất được thể hiện thành hình chữ U, thì trong đó các nước đơn thuần gia công, lắp ráp chỉ được hưởng lợi nhuận ở cái đáy. Còn muốn vươn lên các mức phía trên thì phải là các lĩnh vực liên quan tới sáng tạo, sáng chế, công nghệ cao.

Đó là nhìn dưới khía cạnh kinh tế, còn ở khía cạnh quốc phòng, nếu muốn quân đội tiến lên hiện đại thì không thể trông chờ và việc chỉ chi tiền, mua các vũ khí, công nghệ cao của nước ngoài. Vì vũ khí, thiết bị quân sự là lĩnh vực đặc thù, không phải có tiền là mua được và bị động trong lĩnh vực này liên quan đến an nguy của quốc gia. Khi công nghệ nhân loại ngày càng tiến lên, một nước bị tụt hậu về công nghệ sẽ dễ bị tổn thương, rất khó bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc. Do đó, việc từng bước tự chủ vũ khí, thiết bị quân sự công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược đối với Quân đội ta. Tự chủ về vũ khí, thiết bị quân sự công nghệ cao là để hiện thực hóa giấc mơ “nỏ thần” thời hiện đại, để không kẻ thù nào dám nhòm ngó, đe dọa chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Ý thức được những thách thức lớn ấy, cách đây hơn 10 năm, Viettel quyết tâm thực hiện những nước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất, mà trước hết là nghiên cứu, sản xuất trong lĩnh vực quốc phòng – lĩnh vực đòi hỏi các sản phẩm đặc thù nhất, yêu cầu cao nhất. Nhóm 4 kỹ sư trong đó có Trung tá Nguyễn Vũ Hà (hiện nay là Tổng giám đốc VHT) được lãnh đạo Viettel chọn, giao nhiệm vụ sản xuất máy thông tin quân sự - ước mơ của những kỹ sư thông tin liên lạc quân sự.



Khởi đầu từ số 0

Nhiệm vụ này đối với các kỹ sư trẻ tưởng như là quá sức, chưa biết bắt đầu từ đâu. Mặc dù trước đó, các kỹ sư trong nhóm đều đã ít nhiều được tham gia thiết kế và sản xuất các thiết bị điện tử, có những người từng làm cho các công ty điện tử của Nhật Bản, Hàn Quốc. Thế nhưng tại thời điểm ấy, khi nhận nhiệm vụ thì chưa ai biết máy thông tin quân sự là như thế nào, thậm chí chưa được nhìn ngoài thực tế các mẫu máy thông tin quân sự hiện đại. Khi được giao nhiệm vụ, họ chỉ được cấp vài mẫu máy cũ của Liên Xô hay của Mỹ từ thời kháng chiến để tự nghiên cứu, mày mò.

Rất khẩn trương, cả nhóm bắt tay vào mổ xẻ những chiếc máy mẫu được cấp để nghiên cứu thật kỹ cấu trúc, cấu hình, sơ đồ khối… Để học hỏi, có thêm thông tin, các thành viên trong nhóm tỏa đi một số nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Kết quả là sau một thời gian mày mò, đến năm 2010, họ đã chế thử thành công hai chiếc máy thông tin, mỗi chiếc máy nặng khoảng 12kg, có khả năng nhảy tần 100 lần/giây. Từ tín hiệu khả quan đó, lãnh đạo Viettel báo cáo với Bộ Quốc phòng, xin tạm dừng việc giao cho đơn vị khác đi đàm phán, mua một mẫu thiết bị thông tin quân sự mà nước ngoài đang chào hàng; giao việc đó lại cho Viettel làm, với cam kết sẽ tự sản xuất ra sản phẩm có tính năng tương đương.



Thế rồi, sau đúng 6 tháng miệt mài nghiên cứu, chế tạo, nhóm đã cho ra đời chiếc máy thông tin quân sự nặng 8kg có tính năng tương đương, thậm chí có những mặt ưu việt hơn so với sản phẩm mà nước ngoài đang chào bán với giá rất cao. Tiếp nối thành quả đó, Viettel đầu tư phát triển công nghệ nền tảng SDR, để từ đó có thể phát triển được nhiều dòng máy theo yêu cầu của khách hàng. Các máy do Viettel sản xuất ngày càng hiện đại, có thể so sánh với các máy theo tiêu chuẩn của các nước trong khối quân sự NATO. Từ những máy trạm liên lạc để kết nối với cự ly dài tới 2.000km, máy thông tin lắp đặt trên xe tăng, tới chiếc máy chỉ nặng 300g để có thể trang bị cho từng cán bộ, chiến sĩ đặc công. Tất cả các máy đều có tính năng nhảy tần và bảo mật rất cao. Đáng lưu ý là các máy do Viettel sản xuất được tính toán để phù hợp với khí hậu Việt Nam, chịu độ ẩm lên tới 98%, trong khi các thiết bị của NATO chỉ được tính toán để chịu được độ ẩm 95%.

Vị thế hàng đầu lĩnh vực R&D tại Việt Nam và những nỗi ám ảnh mới

Tiếp nối thành công sau khi nghiên cứu máy thông tin, thủ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo Tập đoàn Viettel lại tin tưởng giao nhiệm vụ cho Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel (đơn vị tiền thân của VHT) nghiên cứu hệ thống rada. Trong khi đó, rada là sản phẩm tích hợp những công nghệ hiện đại nhất, phức tạp nhất. Với nhiệm vụ đầy thách thức như thế, đội ngũ nghiên cứu của Viettel lại được đặt về số 0, bởi cũng chưa biết hệ thống rada cụ thể như thế nào, cũng chưa từng nghiên cứu hệ thống tương tự, hay chưa có tài liệu tham chiếu… Từ vị thế của những chàng trai trẻ mày mò, tìm hiểu công nghệ, với những nỗ lực nghiên cứu ngày đêm quên mình, các kỹ sư Viettel đã trưởng thành rất nhanh, nhận được sự tôn trọng, khâm phục của các chuyên gia rada quốc tế. Thiếu tá Trần Vũ Hợp, Giám đốc Trung tâm Rada (thuộc VHT) còn nhớ rõ những ánh mắt đầy nghi ngại, thậm chí có ý coi thường của đối tác khi nhìn vào đội ngũ nghiên cứu rada của Viettel thưở ban đầu, với những khuôn mặt “búng ra sữa”. Trần Vũ Hợp cho rằng, sự ấm ức trước những ánh mắt đó chính là động lực để đội ngũ của anh làm việc với cường độ khủng khiếp, suốt ngày đêm. Chỉ trong 10 năm, khởi đầu từ số 0 tròn trĩnh, Viettel đã cho ra đời các máy rada thuộc thế hệ thứ 4, trong khi thế hệ rada hiện đại nhất thế giới hiện nay cũng mới chỉ ở thế hệ thứ 5, do một vài cường quốc quân sự hàng đầu phát triển.



Câu chuyện từ việc nghiên cứu, phát triển máy thông tin quân sự, rada đã thể hiện rõ khát vọng và cách làm của Viettel. Những thành quả ấy đã khích lệ, tạo tiền đề để Viettel mạnh dạn tiếp tục đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu, phát triển. Từ những nhóm nghiên cứu, Viettel đã cho thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel vào năm 2011 và sau đó phát triển lên thành Tổng Công ty Công nghiệp - Công nghệ cao Viettel (VHT). Đến nay, VHT đã có rất nhiều các lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ cao, trong đó có các bộ phận nghiên cứu chính là: Ra đa quân sự; Mô hình mô phỏng; Máy thông tin liên lạc; Tự động hoá chỉ huy điều khiển; Máy bay không người lái; Thiết bị mạng viễn thông.



Từ những thành công trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển vũ khí, thiết bị công nghệ cao trong lĩnh vực quân sự, VHT đã mở rộng sản xuất thiết bị theo hướng lưỡng dụng, phục vụ cả quân sự và dân sự để đáp ứng nhu cầu trực tiếp cho người dân. Viettel đi thẳng vào những công nghệ hiện đại, trong đó có những dòng sản phẩm công nghệ hàng đầu thế giới. Ví dụ như, Viettel đang nghiên cứu, sản xuất hệ thống mạng viễn thông 5G hoàn chỉnh, bao gồm từ trạm đến mạng lõi. Phần khó nhất của mạng 5G là chipset, vì hiện nay cả thế giới chỉ có 5 công ty làm được là Ericsson, Huawei, Samsung, Intel, AMD. Thế mà Viettel đang tiến rất nhanh đến mục tiêu làm được chipset cho mạng 5G, nghĩa là làm chủ hoàn toàn công nghệ 5G. Không những thế VHT, đã lên kế hoạch để nghiên cứu, phát triển mạng 6G.



Với quan điểm không ngừng nâng cao mục tiêu phấn đấu, đến nay, VHT đã làm chủ thiết bi mạng lõi viễn thông với 11 dòng sản phẩm, bao phủ tất lớp mạng viễn thông từ lớp truy cập đến mạng lõi, chất lượng tương đương các sản phẩm cùng loại trên thế giới. Nghiên cứu thành công 80 sản phẩm mới, đưa vào kinh doanh 52 sản phẩm mới; hoàn thành đăng ký 276 sở hữu công nghiệp trong và ngoài nước (Trong đó đã được cấp bằng 27 sáng chế trong nước; 04 sáng chế nước ngoài; 13 giải pháp hữu ích, 14 kiểu dáng công nghiệp); 75 bài báo khoa học đã được công bố trên các tạp chí, các hội thảo khoa học trong và ngoài nước.



Hiện nay, VHT đang tập trung xây dựng mô hình kinh doanh chuyên nghiệp tham chiếu theo mô hình các công ty lớn trên thế giới trong lĩnh vực quân sự và dân sự; hoạt động kinh doanh từ khâu marketing, xây dựng giải pháp, bán hàng cho đến chăm sóc khách hàng. VHT đã dần làm chủ công nghệ cao, công nghệ mới, làm chủ các công nghệ cốt lõi mang tầm thế giới; từ đó trở thành một nguồn lực công nghệ mạnh của quốc gia.

Sau mỗi thành tựu, VHT không dừng lại, mà luôn làm mới mình, luôn đặt ra những bài toán mới, những nỗi ám ảnh mới, tự thách thức mình, luôn đặt mình vào vị thế số 0 để tiếp tục tìm tòi, sáng tạo, vươn lên.

Nhận xét