Nguyên TGĐ Tập đoàn Hoàng Anh Xuân: mạng lưới vững là một nền tảng để Viettel phát triển nhanh

Theo Trung tướng Hoàng Anh Xuân - Anh hùng Lao động, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn, hạ tầng mạng lưới là yếu tố quyết định thành công của Viettel hôm nay. Sự tự chủ, cách làm thần tốc, tràn ngập lãnh thổ, lấy nông thôn bao vây thành thị đã giúp Viettel có được mạng lưới lớn nhất và tốt nhất Việt Nam chỉ trong thời gian ngắn.

Kính thưa thủ trưởng, từ 1 doanh nghiệp nhỏ bé, không có tên tuổi, Viettel đã trở thành 1 Tập đoàn kinh tế nhà nước hùng mạnh. Nhìn lại quá trình phát triển ấy, thủ trưởng có thể cho biết hạ tầng mạng lưới đóng góp vai trò như thế nào?

Hạ tầng mạng lưới là sản phẩm nền tảng quan trọng nhất của viễn thông và quyết định thành công của Viettel hôm nay. Mạng lưới ở đây bao gồm hạ tầng truyền dẫn, trạm BTS, thiết bị mạng lõi,… Đầu những năm 2000, khi kinh doanh dịch vụ VoIP 178, lãnh đạo Viettel đã vô cùng thấm thía tầm quan trọng của hạ tầng mạng lưới nên quyết định phải xây dựng một mạng lớn nhất, tốt nhất Việt Nam, phủ sóng cả thành thị, nông thôn, miền núi, biên giới, biển, hải đảo,…

Đó là cơ sở đảm bảo cho sự thành công của Viettel trong suốt 2 thập kỷ qua. Không có mạng lưới, Viettel không thể làm được gì.


Để dựng nên mạng lưới lớn nhanh như vậy, Viettel đã gặp những khó khăn, thuận lợi gì, thưa thủ trưởng?

Xây dựng mạng lưới sâu rộng và tốt nhất là thách thức vô cùng lớn với Viettel vào thời điểm khó khăn bộn bề ấy. Thứ nhất là trở ngại về môi trường kinh doanh. VNPT là doanh nghiệp nhà nước độc quyền viễn thông ở Việt Nam trở thành rào cản cho Viettel tham gia thị trường viễn thông.

Thứ hai về nguồn lực con người và tài chính - 2 yếu tố quan trọng nhưng Viettel đều không có. Ban đầu, Viettel có hơn 100 người, đa số là kỹ sư thiết kế, thi công hạ tầng, có kinh nghiệm làm thuê cho VNPT, xây lắp cột phát sóng truyền hình. Một phần rất nhỏ là kỹ sư viễn thông. Hầu hết sinh viên khá giỏi ra trường ngày ấy đều đầu quân vào VNPT hay các công ty lớn. Viettel không có thương hiệu và kém rất xa so với đối thủ trên thị trường nên không có điều kiện tìm được nhân sự tốt.

Nếu muốn xây dựng mạng viễn thông quy mô lớn nhất Việt Nam phải có hàng tỷ USD, nhưng năm 2004, vốn Viettel có 10 triệu USD tiền lãi từ làm VoIP. Lúc mới làm di động, chỉ ước có 500 trạm toàn quốc để đủ tiền thu về, bù đắp các khoản đầu tư. Làm được khoảng 150 trạm thì cạn tiền, không vay được ngân hàng.

Về thuận lợi, ngay từ đầu, Đảng ủy, Ban Giám đốc Viettel luôn đoàn kết, nhất trí cao trên tinh thần tập trung dân chủ. Hàng tháng đều ra Nghị quyết lãnh đạo, xác định mục tiêu, thống nhất quan điểm. Người chỉ huy tổ chức thực hiện cương quyết, khoa học.

Thuận lợi thứ hai là cán bộ, công nhân viên Viettel lao động quên mình, làm ngày làm đêm, khắc phục khó khăn đến mức thắp đuốc đi lắp trạm. Khí thế làm việc hừng hực ấy đem lại hiệu quả vô cùng tốt, hoàn thành đầy đủ và vượt mục tiêu mà Nghị quyết Đảng ủy đề ra.

Thuận lợi thứ ba là giai đoạn đầu Viettel làm viễn thông, Việt Nam có chính sách không cho nước ngoài đầu tư trực tiếp. Viettel đàm phán với công ty viễn thông của Úc thất bại, nhưng nhờ thất bại ấy, người Viettel học hỏi được rất nhiều, hiểu được ưu điểm, hạn chế của việc phát triển mạng di động.

Thứ tư là lúc ấy, cán bộ, công nhân viên Viettel có 80 - 90% là thiết kế cơ khí, thành thạo trong xây dựng mạng lưới, kết hợp với kinh nghiệm tích lũy trong quá trình kinh doanh 178 nên trưởng thành rất nhanh. Nhiều khi họ chỉ cần vẽ tay, đưa tờ giấy cho đội thi công là làm được.

Cuối cùng là nhu cầu thị trường khi ấy rất lớn, VNPT chủ yếu đầu tư hạ tầng ở các thành phố lớn và trong nước nên tạo cơ hội cho Viettel kinh doanh viễn thông.

Với những thuận lợi, khó khăn như vậy, xin thủ trưởng chia sẻ Viettel đã có những giải pháp, cách làm như thế nào để phát triển mạng lưới?

Trước đó, Viettel thuê hãng tư vấn hàng đầu thế giới là Aircom thiết kế 1 mạng lưới 150 trạm, mỗi trạm hết 7.000 USD, mất 2 tuần để gửi sang nước ngoài rồi lại gửi về để thiết kế tiếp. Nếu làm 2.000 trạm, mất tới 140 triệu USD - quá lớn với Viettel lúc ấy. Đảng ủy, Ban Giám đốc Viettel quyết định tự làm. Đây là quyết định táo bạo, khó khăn nhưng đã làm nên thương hiệu Viettel.



Về bộ máy, Viettel thành lập Công ty Mạng lưới để tập trung lực lượng kỹ thuật về một đầu mối và tổ chức đào tạo. Sau thời gian vừa làm vừa học, Viettel tạo ra đội ngũ kỹ sư lấp đầy những thiếu thốn của Viettel về viễn thông. Lực lượng xây lắp công trình đều là những người rất thiện chiến, chuyên nghiệp trong thiết kế, thi công.

Về tài chính, Viettel tìm ra phương án mua trả chậm. Khi Viettel mua trả chậm trong 4 năm nhưng thiết bị về, chúng ta lắp phát sóng hơn 1 năm đã thu hồi vốn. Cách làm này giúp Viettel vượt qua khó khăn về tài chính trong những năm đầu làm di động.

Giải pháp hiệu quả nữa là phát động sáng kiến ý tưởng. Lúc mới kinh doanh, thuê bao Viettel ít, không đấu lại đối thủ. Mình phải tự lớn lên thì mới cạnh tranh được. Chính những ý tưởng hay, sáng kiến tốt đã giúp Viettel biến điều không thể thành có thể, biến việc phức tạp thành đơn giản. Thời gian lúc ấy là vàng, khẩu hiệu hành động là Nhanh - Chất lượng - Hiệu quả. Khi xây dựng mạng lưới, chủ trương của Viettel là đi các tỉnh, đếm xem đối thủ có bao nhiêu trạm, Viettel làm gấp rưỡi - gấp đôi số ấy

Trong khi đối thủ tập trung ở thành phố là nơi sinh lời nhiều nhất thì ý tưởng của Viettel là thần tốc, lấy nông thôn bao vây thành thị, lấp đầy chỗ trống, mỗi xã 1 trạm phát sóng, tràn ngập lãnh thổ,…. Lượng thuê bao Viettel ở vùng quê nông thông tăng trưởng liên tục trong nhiều năm, khiến người tiêu dùng ở khu vực đô thị phải mở rộng thuê bao Viettel để thuận lợi kết nối.

Từ quá trình xây dựng mạng lưới, hàng nghìn sáng kiến ra đời. Có 2 sáng kiến tiêu biểu tạo nên nguồn lực vô cùng lớn cho Viettel. Thứ nhất là thiết kế mạng theo hình mắt lưới ở trung tâm tỉnh/huyện, cứ 800m đặt 1 trạm, chỗ nào nhiều thuê bao thì 400m đặt 1 trạm, vùng nông thôn đặt ở trung tâm xã, khu vực đông dân nhất. Làm như vậy có thể thiết kế xong 2.000 trạm trong vòng 1 ngày. Thứ hai là thiết kế thi công trạm điển hình theo vùng miền như đồng bằng miền bắc, miền núi.... 2 sáng kiến này vừa rút ngắn thời gian triển khai rất nhiều vừa dễ điều chỉnh. Về đầu tư mua sắm, Viettel có sáng kiến chuyển đổi thiết bị, không phụ thuộc vào 1 vài hãng cung cấp, tránh nguy cơ bị đối tác ép giá cao.

Để thiết kế mạng lưới đầy đủ mất khoảng 20-30 năm, Viettel chỉ cần 7 năm để phát sóng hơn 25.000 trạm. Nếu làm theo cách của đối tác, chúng ta phải cần vài tòa nhà để chứa hồ sơ, tài liệu. Năm 2012, Viettel đạt doanh thu hơn 141 nghìn tỷ đồng, lần đầu tiên vượt doanh thu của Tập đoàn VNPT, tăng trưởng 2.800 lần. Kết quả ấy có đóng góp rất lớn của sáng kiến thiết kế mạng mắt lưới và thiết kế trạm điển hình.

Vậy thách thức nhất với Viettel hiện nay là gì, thưa thủ trưởng?

Đó là làm sao giữ được thương hiệu Viettel. Xây dựng được thương hiệu cần 10, 15 năm nhưng duy trì nó mới quan trọng. Để làm được việc đó, Viettel phải đảm bảo chất lượng dịch vụ và sự uy tín với khách hàng, mà muốn thế phải xuất phát từ cái tâm của người Viettel.

Xin cảm ơn và kính chúc thủ trưởng thật nhiều sức khỏe!

Nhận xét